11500, 46, 224
Trương Mục mới
Login
Trang nhà
 
Tin tức
 
Bài viết
 
Phim ảnh
 
Thư viện
 
Lich Trình
 
Thương mại/Dịch vụ
 
Đời sống
 
Diễn đàn
 
Kết nối
 
Liên lạc
 
Thư viện - Danh mục:  > Tài Liệu Lịch Sử & Chiến Tranh
Đăng bài mới
Sủa bài này
Email bài này
English
 Tài Liệu Lịch Sử & Chiến TranhTrở lại phần chính
     Chủ Nghĩa
     Chính Phủ
     Sức Khỏe & Y tế
     Giáo dục - Văn Hóa & Xã Hội
     Tủ Sách
     Phong Cảnh, Địa lý
     Những chế độ Cộng sản, độc tài bị sụp đổ
     Khoa Học & Kỹ Thuật
     Nghệ Thuật & Trang Trí
     Kiến Trúc
     Xã Hội & Đời Sống
     Sắc Đẹp
     Ký ức & Hồi ký
     Ngôn Ngữ
     Âm Nhạc & Giải Trí
     Thể Thao
     Tôn Giáo
     Tình Yêu & Tình Bạn­
     Gia Đình­
     Child Care­
     Mẹo Vặt
     Phong Tục Tập Quán
     Chuyện lạ
     Sưu tầm
     Thực Phẩm
     Môi trường
     Vệ sinh

Bài mớ nhất:
1 - TÂY TẠNG: 20 NĂM BI HÙNG CHỐNG TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC VỚI SỰ GIÚP ĐỠ CỦA CIA (P2)
2 - TÂY TẠNG: 20 NĂM BI HÙNG CHỐNG TRUNG CỘNG XÂM LƯỢC VỚI SỰ GIÚP ĐỠ CỦA CIA (P1)
3 - VÌ SAO GẦN MỘT NỬA NGƯỜI VIỆT CÙNG MANG HỌ NGUYỄN ?
4 - HỌ NGUYỄN VÀ HÔN NHÂN CHÁNH TRỊ
5 - SÀI GÒN: MIỀN ĐẤT HỨA
6 - ĐẠI NẠN TRUNG HOA: NANH VUỐT TRUNG CỘNG
7 - “TIẾNG GỌI CÔNG DÂN”
8 - ĐẠI NẠN TRUNG HOA: TRUNG CỘNG BẪY NỢ
9 - ĐẠI NẠN TRUNG HOA THỜI CẬN ĐẠI
10 - CHIẾN TRANH 1954-1975 TRONG CHIẾN TRANH LẠNH TRÊN THẾ GIỚI
11 - NGÀY 30 THÁNG TƯ 1975, BẠN ĐANG Ở ĐÂU? LÀM GÌ ?
12 - DI TẢN VÀ VƯỢT BIÊN - KÝ ỨC VỀ NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CỘNG SẢN
13 - BÀI XÍCH THUYẾT VIỆT NHO VÀ HUYỀN SỬ CON RỒNG CHÁU TIÊN ĐỂ LÀM GÌ?
14 - LẬT LẠI VỤ ÁN XỬ TỬ MẤY NGÀN SĨ QUAN VIỆT MINH
15 - DŨNG TƯỚNG ĐẠI VIỆT ĐÁNH BẠI QUÂN NGUYÊN MÔNG 2 LẦN TRÊN ĐẤT TRIỀU TIÊN, ÔNG LÀ AI ?
16 - SÀGÒN NGÀY DÀI NHẤT (PHẦN 3 – HẾT)
17 - SÀGÒN NGÀY DÀI NHẤT (PHẦN 2)
18 - SÀGÒN NGÀY DÀI NHẤT (PHẦN 1)
19 - HU ZHIMING, TÊN MA ĐẦU ĐẠI BỊP (KỲ 8)
20 - 100 NĂM TRƯỚC, ĐIỀU KỲ DIỆU XẢY RA TRONG ĐÊM GIÁNG SINH NHƯNG BÁO CHÍ KHÔNG ĐƯỢC PHÉP ĐƯA TIN
21 - HU ZHIMING, TÊN MA ĐẦU ĐẠI BỊP (KỲ 7)
22 - HU ZHIMING, TÊN MA ĐẦU ĐẠI BỊP (KỲ 6)
23 - HU ZHIMING, TÊN MA ĐẦU ĐẠI BỊP - KỲ 5
24 - HU ZHIMING, TÊN MA ĐẦU ĐẠI BỊP (KỲ 4)
25 - HU ZHIMING, TÊN MA ĐẦU ĐẠI BỊP - KỲ 3

Xếp Theo Loại:
Tài Liệu Lịch Sử & Chiến Tranh(260)


Xếp theo thời gian:
10/2018 (2)
09/2018 (3)
07/2018 (3)
06/2018 (1)
05/2018 (2)
04/2018 (1)
03/2018 (3)
01/2018 (4)
2017 (41)
2016 (118)
2015 (26)
2014 (32)
2013 (9)
2011 (11)
2010 (2)
2009 (2)
 
NHÂN VẬT LỊCH SỬ NỔI TIẾNG THỜI NHÀ TRẦN

 

NHÂN VẬT LỊCH SỬ NỔI TIẾNG THỜI NHÀ TRẦN

 

Sưu tầm - Thời Nhà Trần, một giai đoạn lịch sử oanh liệt của dân tộc Việt Nam: 3 lần đánh bại quân Mông cổ, kẻ mà vó ngựa của họ đã tung hoành từ Á sang Âu đến Trung Đông.

Nước Việt Nam tuy nhỏ bé, nhưng dân tộc Việt Nam có chí khí quật cường vô địch thời bấy giờ. Những trận chiến hiển hách diệt quân Nguyên (Sát Thát) toàn thắng nhờ toàn dân một lòng diệt giặc xâm lăng. Những chiến thắng đó là công lao của những danh tướng Việt Nam dưới trướng của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Họ là những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Những vị dũng tướng đó đã được các nhà viết sữ ghi lại những chiến công bảo quốc của họ, cho con cháu đời sau thờ kính và noi gương.

LINH TỪ QUỐC MẪU TRẦN THỊ DUNG


 
Tượng Linh từ quốc mẫu Trần Thị Dung và Thái sư Trần Thủ Độ ở chùa Cầu Đông

Trần Thị Dung là con gái Trần Lý, em gái của Trần Thừa và Trần Tự Khánh và là anh em họ với Trần Thủ Độ.

Thái Tử Sảm chạy loạn Quách Bốc về ở nhờ Hải ấp của ông Trần Lý, thấy Trần Thị Dung xinh đẹp xin lấy làm vợ vào năm 1209.

Anh em nhà Trần đã mộ quân lính dẹp loạn Quách Bốc đón vua Lý Cao Tông và Thái tử Sảm về Triều.

Cuối năm 1210, Thái tử Sảm lên ngôi hoàng đế là Lý Huệ Tông lập Trần Thị Dung làm nguyên phi, đến giữa năm 1216 được phong làm Hoàng hậu.

Trần Thị Dung cùng với Lý Huệ Tông sinh được hai công chúa: Thuận Thiên công chúa gả cho Trần Liễu và Chiêu Thánh công chúa (tức là Lý Chiêu Hoàng) lấy Trần Cảnh. Lý Huệ Tông đi tu rồi chết. Tháng 12/1225 Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Thái Tông.

Tháng 8/1226 nhà Trần đã gả Hoàng hậu triều Lý là Trần Thị Dung cho Thái sư Trần Thủ Độ.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ nhất, bà Trần Thị Dung đã có công chỉ huy hoàng tộc chủ động rút khỏi kinh đô Thăng Long, sau đó lại lo liệu thu nhặt sắt thép, động viên các hiệp thợ ngày đêm rèn đúc vũ khí để cung cấp cho quân Trần. Bà còn lo liệu cả lương thực, thực phẩm để cung cấp cho quân đội đánh giặc.

Sau chiến thắng ở Đông Bộ đầu vào tháng 1/1258, quân dân Đại Việt đuổi giặc Nguyên - Mông ra khỏi bờ cõi, giữ vững nền độc lập của Tổ quốc.

Với công lao to lớn của bà, nhà Vua đã sắc phong bà là Linh Từ Quốc Mẫu. (http://traihevietnam.vn/)


HOÀI VĂN HẦU TRẦN QUỐC TOẢN (1267 – 1285)


 
Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản: Phá cường địch, báo Hoàng ân

“Hoài Văn tuổi trẻ chí cao
Cờ đề sáu chữ, quyết vào lập công”

Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản, 1267-1285) là một quý tộc nhà Trần, sống ở thời kỳ trị vì của vua Trần Nhân Tông, có công tham gia kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai.

Dấu ấn lịch sử

Tháng 10 năm 1282, các vua quan nhà Trần mở hội nghị Bình Than để bàn kế chống quân Nguyên. Đại Việt Sử ký Toàn thư chép: Vua thấy Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, Hoài Nhân Vương Kiện đều còn trẻ tuổi, không cho dự bàn. Quốc Toản trong lòng hổ thẹn, phẫn khích, tay cầm quả cam, bóp nát lúc nào không biết. Sau đó Quốc Toản lui về, huy động hơn nghìn gia nô và người nhà thân thuộc, sắm vũ khí, đóng chiến thuyền, viết lên cờ sáu chữ:"Phá cường địch, báo hoàng ân" (phá giặc mạnh, báo ơn vua).

Sau này, khi đối trận với giặc, tự mình xông lên trước quân sĩ, giặc trông thấy phải lui tránh, không dám chống lại. Đến khi mất, vua rất thương tiếc, thân làm văn tế, lại gia phong tước vương.

Tháng 4 năm 1285, vua Trần Nhân Tông sai Chiêu Thành vương, Hoài Văn hầu Quốc Toản, tướng quân Nguyễn Khoái đem tiệp binh đón đánh quân Nguyên ở bến Tây Kết.

Ngày 10 tháng 5 năm đó có người về báo cho hai vua Trần là thượng tướng Quang Khải, Hoài Văn hầu Quốc Toản và Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp cùng em là Nguyễn Truyền đem dân binh các lộ đánh bại quân giặc ở các xứ Kinh Thành, Chương Dương. Quân giặc tan vỡ lớn... Thoát Hoan, Bình chương A Lạt rút chạy qua sông Lô.

Trong các sử sách của Việt Nam như Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Việt sử Tiêu án và các quyển sử soạn gần đây như Việt sử tân biên của Phạm Văn Sơn, Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, Trần Hưng Đạo của Hoàng Thúc Trâm đều không thấy đề cập đến cái chết của Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản. Chỉ có ĐVSKTT bản kỷ quyển V có viết:

"... Đến khi mất, vua rất thương tiếc, thân làm văn tế, lại gia phong tước Vương".

Nhưng các quyển sử của nhà Nguyên lại có đề cập đến cái chết của ông. An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 8a10 có ghi: Quan quân đến sông Như Nguyệt, thì Nhật Huyên sai Hoài Văn hầu đến đánh..."Kinh thế đại điển tự lục" trong "Nguyên văn loại" 41 tờ 27b 1-2 có viết:

... Đến sông Như Nguyệt, Nhật Huyên sai Hoài Văn Hầu đến đuổi thì bị giết. Theo sách Việt sử kỷ yếu của Trần Xuân Sinh thì khi Ô Mã Nhi đánh vào Vân Đồn để cướp lại lương thực thì quân của Trần Quốc Toản và Trần Khánh Dư chống đỡ kịch liệt. Quốc Toản hăng hái cự địch, không may qua đời ngày 2 tháng 2 âm lịch. (https://vi.wikipedia.org)


THƯỢNG TƯỚNG THÁI SƯ TRẦN QUANG KHẢI

Trần Quang Khải người duy nhất được phong "Thượng tướng Thái sư" thời nhà Trần

Trần Quang Khải (1240-1294) là con trai của vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) và Hoàng hậu Thuận Thiên.

Năm 1258 được phong tước Chiêu Minh Đại vương, khi 18 tuổi. Năm 1274, ông được giao chức Tướng quốc Thái uý. Năm 1282, dưới triều vua Trần Nhân Tông được cử làm Thượng tướng Thái sư, nắm toàn quyền nội chính.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai và lần thứ ba, Trần Quang Khải là vị tướng chủ chốt thứ hai, sau Quốc Công tiết chế Trần Quốc Tuấn và lập nhiều chiến công lớn. Trần Quang Khải đã chỉ huy đánh tan quân Nguyên ở Chương Dương và những trận then chốt nhằm khôi phục kinh đô Thăng Long vào cuối tháng 5/1285.

Trận đại thắng Chương Dương đã mở đường cho quân ta tiến nhanh đến thắng lợi cuối cùng, quét sạch giặc Nguyên ra khỏi bờ cõi.

Kinh thành được thu phục, Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải hồ hởi đón vua Trần Nhân Tông cùng triều đình trở lại Thăng Long. Tiệc mừng chiến thắng vui đến nổ trời. Giữa cảnh tượng nức lòng người ấy, Trần Quang Khải cảm động đón lấy chén rượu mừng công còn đang sóng sánh của Nhà Vua ban tặng, và xin phép đọc bài thờ cảm khái:

Đoạt sáo Chương Dương độ
Cầm hồ Hàm Tử quan
Thái bình tu nỗ lực
Vạn cổ thử giang san!

Tạm dịch:

Bến Chương Dương cướp giáo
Cửa Hàm Tử bắt thù
Thái bình nên gắng sức
Non nước này muôn thu!

Trần Quang Khải là một anh tài kiệt xuất không những về chính tri, quân sự, mà còn là một nhà thơ. Ông là tác giả tập thơ "Lạc Đại". Ngày 3 tháng 7 năm 1294 (Giáp Ngọ) Thượng tướng Thái sư Chiêu Minh Đại vương mất, thọ 54 tuổi. (http://traihevietnam.vn/)

CHIÊU VĂN ĐẠI VƯƠNG TRẦN NHẬT DUẬT

Trần Nhật Duật trong trận Hàm Tử Quan

Trần Nhật Duật (1253-1330) con trai thứ tư của Trần Thái Tông và Hoàng hậu Thuận Thiên. Từ bé đã nổi tiếng là ông Hoàng hiếu học và "sớm lộ thiên tài, ham thích hiểu biết về các tiếng nói và các giống người".

Do miệt mài rèn luyện mà Trần Nhật Duật nổi tiếng hiểu nhiều biết rộng, uy tín và tiếng tăm của ông vang dội ra cả nước ngoài. Học tiếng Tống và tiếng Chiêm Thành, ông chẳng những chỉ sử dụng thành thạo các ngôn ngữ ấy mà còn am hiểu cả phong tục, tập quán của họ. Đối với các dân tộc trong nước, ông không chỉ hiểu tiếng mà còn hiểu cả về người.

Mới ngoài 20 tuổi, Trần Nhật Duật đã được vua Trần Nhân Tông giao đặc trách những công việc về các dân tộc có liên quan. Nhà vua thán phục, có lần nói đùa: "Chiêu Văn Vương có lẽ không phải người Việt mà là hậu thân của giống Phiên, Man". Tiếp xúc với các sứ thần triều Nguyên, có lần Trần Nhật Duật vui vẻ, tự nhiên trò chuyện suốt cả một ngày, khiến cho sứ Nguyên khăng khăng cho rằng Trần Nhật Duật là người Hán ở Chân Định (gần Bắc Kinh) sang làm quan bên Đại Việt.

Câu chuyện sau đây chứng tỏ Trần Nhật Duật chẳng những giỏi các thứ tiếng mà còn là một nhà dân tộc học lỗi lạc.

Ngày ấy, vua quan triều Trần được tin chúa đạo Đà Giang (Tây Bắc ngày nay) Trịnh Giác Mật nổi lên chống lại triều đình. Tin dữ trong lúc nhà Nguyên đang sửa soạn đại binh đánh Đại Việt. Cần phải dẹp ngay mối loạn trong nước. Người đảm đương trọng trách cũng không ai hơn Trần Nhật Duật. Thế là vị Vương gia trẻ tuổi dưới cờ hiệu "Trấn thủ Đà Giang" lên đường.

Trịnh Giác Mật định ám hại viên tướng trẻ triều Trần nên sai người đưa thư dụ Trần Nhật Duật: "Giác Mật không dám trái lệnh triều đình. Nếu ân chủ một mình một ngựa đến, Giác Mật xin ra hàng ngay". Muốn thu phục được Giác Mật, Trần Nhật Duật mặc các tướng can ngăn, một mình một ngựa đến trại Giác Mật, chỉ mang theo mấy tiểu đồng cắp tráp theo hầu. Thản nhiên đi giữa lớp gươm giáo và đám lính sắc phục kỳ dị cố ý phô trương uy hiếp của Giác Mật, Trần Nhật Duật nói với chúa đạo bằng chính ngôn ngữ và theo đúng phong tục của dân tộc Đà Giang:

- Lũ tiểu đồng của ta khi đi đường thì nóng tai trái, vào đến đây thì nóng tai phải.

Từ Giác Mật đến các đầu mục đều sững sờ, kinh ngạc trước sự am hiểu tiếng nói và tục lệ Đà Giang của Trần Nhật Duật. Rồi mâm rượu được bưng lên. Chúa đạo nheo mắt thách thức, đưa tay mời. Chỉ có quả hầu cắt đôi sóng sánh rượu và đĩa mâm thịt nai muối. Trần Nhật Duật không chút ngần ngại cầm thịt ăn vừa nhai vừa ngửa mặt, cầm bầu rượu từ từ dốc vào lỗ mũi hết sức thành thạo.

Trịnh Giác Mật kinh ngạc thốt lên: "Chiêu Văn Vương là anh em với ta".

Trần Nhật Duật bấy giờ mới từ tốn nói: "Chúng ta xưa nay vẫn là anh em", rồi gọi tiểu đồng đến gần, tự tay mở tráp, lấy ra những chiếc vòng bạc sáng lóng lánh, trao tận tay cho từng đầu mục đạo Đà Giang, và chọn riêng cho chúa đạo Đà Giang một chiếc vòng lớn, lồng nguyên một chiếc vuốt cọp!

Những người cầm đầu đạo Đà Giang chỉ còn biết hoan hỉ đón nhận tặng phẩm kết nghĩa theo đúng tục lệ của họ. Chúa đạo Đà Giang đã quy thuận. Sức mạnh của dân tộc được nhân lên.

Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ hai và lần thứ ba, Trần Nhật Duật đều lập được nhiều chiến công hiển hách, đặc biệt là trận Hàm Tử.

Năm 1330 (Canh Ngọ) Tá thánh Thái sư Chiêu văn Đại vương Trần Nhật Duật mất, thọ 77 tuổi. (http://traihevietnam.vn/)

NHÂN HUỆ VƯƠNG TRẦN KHÁNH DƯ

 
Trần Khánh Dư cướp được thuyền lương của giặc Nguyên (A 5)

Trần Khánh Dư là con Thượng tướngTrần Phó Duyệt, nhân có công đánh giặc Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ nhất được vua Trần Thái Tông nhận làm con nuôi và phong đến chức Phiên kỵ tướng quân rồi đến chức Thượng vị hầu. Sau Trần Khánh Dư mắc tội, bị triều đình giáng xuống làm dân thường phải đi bán than để kiếm sống ở Chí Linh.

Trước cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ 2, ông được vua Trần Thánh Tông phục chức, được phong là Phó đô tướng quân.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ 3, Trần Khánh Dư chịu trách nhiệm giữ vùng bờ biển, không chặn nổi thuỷ quân giặc, để chúng qua được cửa An Bang tiến về Vạn Kiếp, Thượng hoàng được tin, sai Trung sứ xiềng Khánh Dư giải về kinh trị tội. Trần Khánh Dư xin với Trung sứ: "Lấy quân pháp mà xử, tôi xin cam chịu tội, nhưng xin khất hai ba ngày để mưu lập công rồi về chịu búa rìu cũng chưa muộn". Trung sứ theo lời.

Trần Khánh Dư liệu biết quân giặc đi qua, thuyền vận tải chở nặng tất theo sau, nên thu thập tàn quân đón chúng. Chẳng bao lâu thuyền vận tải quả nhiên đến, ông đưa quân ra đánh, lấy được lương thực, khí giới và bắt được tù binh nhiều không kể xiết, còn bao nhiêu thì đánh đắm xuống biển. Tướng giặc Trương Văn Hổ phải xuống chiếc thuyền con chạy trốn về đảo Hải Nam mới thoát chết.

Ông được phong tước Nhân Huệ vương, mất năm 1329.(http://traihevietnam.vn/

GIAI THOẠI ÔNG LÃO BÁN THAN

 

Thuyền vua Trần Nhân Tông theo dòng sông Đuống đến Bình Than để về hội quân bàn kế chống giặc Nguyên lại sang xâm lược (1282). Nhìn ra phía trước, vua thấy một ông lão ăn mặc tiều tụy, khoác áo quen quen, liền hỏi tả hữu:

- Có phải Nhân Huệ Vương đấy không?

Mọi người nhìn theo rồi đồng thanh:

- Dạ, chính phải.

- Hãy mời Vương đến gặp ta.

Đúng đó là Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư. Ông phạm lỗi, bị cách chức thành dân thường, về làm nghề đốt than. Lính nhà vua rượt thuyền theo kịp ông để mời ông dừng lại, ông lắc đầu:

- Tôi chỉ là lão bán than quê mùa, có gì mà hỏi.

Vừa lúc thuyền của Nhân Tông đến cạnh. Nhà vua dịu dàng nói:

- Thôi đừng giấu ta nữa. Một thời gian qua đã khiến cho kẻ nam nhi khốn khó thế này ư ? Thôi trở lại mà lập công giết giặc.

Trần Khánh Dư đổi ngay thái độ:

- Đánh giặc thì tôi không từ chối. Đốt than hàng ngày để kiếm ăn, nhưng cũng là nung nấu chí lớn đấy thôi.

Trần Khánh Dư được trở lại làm quan. Ông giỏi về thủy chiến nên được giao luyện tập và phụ trách thủy quân ở mặt Hải Đông. ít lâu sau, ông đánh thắng đoàn thuyền của tướng giặc Trương Hổ.

Câu chuyện tướng quân Trần Khánh Dư đi bán than mà vẫn nung nấu căm thù đã trở thành câu chuyện đẹp trong lịch sử. Người đời sau đã chép vào hành trang này của ông một bài thơ, đó là bài Bán than của một người đời Lê (sống sau ông Trần đến năm trăm năm). Bài thơ không phải của Trần Khánh Dư, nhưng đã thể hiện được tâm sự anh hùng mà ông ôm ấp:

Một gánh kiền khôn quẩy tếch ngàn
Hỏi chi bán đó? Gửi rằng: than
ít nhiều miễn được đồng tiền tốt
Hơn thiệt nài bao gốc củi tàn
Ở với lửa hương cho vẹn kiếp
Thử xem sắt đá có bền gan
Nghĩ mình lem luốc toan nghề khác
Nhưng lệ trời kia lắm kẻ hàn (*).

(http://www.maxreading.com/)


BẢO NGHĨA VƯƠNG TRẦN BÌNH TRỌNG (1259 - 1285)


 
“Ta thà làm qủy nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”

Trần Bình Trọng sinh năm 1259, vốn dòng dõi vua Lê Đại Hành (Thọ Xuân-Thanh Hóa). Cha tên là Lê Tần, một cận tướng của vua Trần Thánh Tông.

Trong cuộc chống quân xâm lược Mông cổ lần thứ nhất (1258), Lê Tần là người có công đầu, được vua ban quốc tính (họ Trần) và thường được gọi là Lê phụ Trần (nghĩa là người họ Lê có công phò giúp họTrần). Ông còn được phong tước Bảo Văn Vương, đến năm 1274 được vua cử làm Giáo thụ cho thái tử Khảm (tức vua Nhân Tông sau này).

Trần Bình Trọng, ngay từ thuở nhỏ, được cha giáo dục, dạy dỗ chu đáo. Lớn lên, ông là người văn võ song toàn và sớm trở thành một danh tướng của nhà Trần. Ngoài việc được mang quốc tính nhà Trần, Trần Bình Trọng còn được vua Trần Thái Tông nhận làm phò mã - là chồng của công chúa Thụy Bảo và được phong tước là Bảo Nghĩa Vương, thuộc vào hàng tước vị cao nhất ở thời nhà Trần.

Vào năm 1271, Hốt Tất Liệt thôn tính hoàn toàn Trung Quốc lập nên triều đại Nguyên . Để báo thù cho việc xâm lược Đại Việt lần thứ nhất (1258) bị thất bại, Hốt Tất Liệt đã huy động một lực lượng hùng mạnh, gồm hơn 50 vạn quân thủy - bộ với các dũng tướng Mông Cổ như Alý - Hải Nha, Ô Mã Nhi, Toa Đô...và giao cho thái tử -Trấn Nam Vương Thoát Hoan chỉ huy tiến hành xâm lược Đại Việt lần thứ hai.
            
Trước sự xâm lăng của quân Nguyên-Mông, vua tôi nhà Trần tích cực chuẩn bị kháng chiến. Với Hội nghị Vương Hầu - Bình Than (1282) và Hội nghị bô lão - Diên Hồng (1285), quân dân nhà Trần đã thể hiện tinh thần “Sát Thát”, “Quyết đánh quyết thắng” của cả dân tộc. Vào ngày 02-02-1285, quân Nguyên - Mông ồ ạt tấn công Đại Việt. Để tránh thế mạnh ban đầu của giặc, chờ thời cơ phản công, nhà Trần vừa thực hiện chính sách “vườn không, nhà trống”, vừa rút lui chiến lược, sơ tán triều đình về Thiên Trường (Nam Định).

Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng được giao chỉ huy, tổ chức chặn đánh quân giặc tại Thiên Mạc một cứ điểm chiến lược nằm án ngữ con đường thủy .Vùng Thiên Mạc (xã Châu Giang, huyện Duy Tiên, Hà Nam) là một bãi phù sa rộng lớn ở phía nam sông Hồng, khi sông Hồng chảy đến đây tách làm hai nhánh bao quanh cù lao Thiên Mạc.

 Sau khi quân Nguyên - Mông tiến vào Thăng Long, bị rơi vào cảnh “vườn không, nhà trống”, Thoát Hoan vội cho Ô Mã Nhi đem thủy quân đuổi theo Thượng Hoàng Trần Thánh Tông và vua Nhân Tông đang trên đường xuôi về Thiên Trường. Tại Thiên Mạc, cuộc chiến đấu ác liệt của quân dân Đại Việt và quân xâm lược Nguyên-Mông diễn ra suốt bảy ngày đêm. Cuối cùng, với sự tăng cường viện binh của quân Nguyên, cứ điểm phòng thủ Thiên Mạc bị vỡ, Trần Bình Trọng bị sa vào tay giặc. Nhận thấy đây là một dũng tướng lỗi lạc, quân giặc ra sức dụ dỗ, mua chuộc ông ( kể cả hứa ban tước vương của triều Nguyên), ông đã mắng lại: “Ta thà làm qủy nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”. Biết không lay chuyển được tấm lòng kiên trung sắt đá của Ông, giặc đã giết ông vào ngày 26 tháng 02 năm 1285 trong sự kính phục vô hạn.
            
Sau khi thắng lợi, nhà Trần truy phong Trần Bình Trọng tước Đại Vương (phẩm tước cao nhất trong hàng Vương hầu) - xứng đáng với chiến công và sự hy sinh oanh liệt của ông. (http://tranbinhtrong.phuyen.edu.vn/)

 

ĐIỆN SUÝ THƯỢNG TƯỚNG QUÂN PHẠM NGŨ LÃO


 
Phạm Ngũ Lão ngồi đan sọt

Phạm Ngũ Lão người làng Phù ủng, Đường Hào (nay là Ân Thi, Hưng Yên) sinh năm 1255, nhà nghèo, bố chết sớm, phụng dưỡng mẹ già rất hiếu thảo, là người thông minh lại ham đọc sách và rèn luyện võ nghệ nên làu thông văn võ.

Một lần Hưng Đạo Vương đưa quân đi tập trận rồi tắt đường qua làng Phù ủng để về Thăng Long. Chợt đoàn quân dừng lại, tướng tiên phong Nguyễn Chế Nghĩa quay lại, trước mặt Hưng Đạo Vương, thưa:

- Trình Đức Ông, dân chúng đều dẹp sang hai bên nhường đường cho quân trẩy qua, chỉ riêng có một người vẫn ngồi xếp bằng tròn trên đường đan sọt, quân lính quát thét không tránh, liền đâm mũi giáo mà người đó vẫn ngồi yên.

Hưng Đạo Vương thấy sự lạ liền xuống voi đến trước mặt chàng trai. Vương thấy chàng trai chừng 20 tuổi, đầu để trần, mặc áo rách nhưng dung mạo rất khôi ngô, tuấn tú, một bên đùi bị giáo đâm nhưng vẫn ngồi xếp bằng tròn đan sọt, mặc cho máu chảy đầm đìa, liền cúi xuống hỏi:

- Nhà ngươi quê ở đâu, bị giáo đâm như thế sao không biết đau mà vẫn ngồi như vậy?

Chàng trai đó ngước nhìn lên thấy một vị tướng quân đã lớn tuổi, cằm vuông, mắt sáng, chòm râu đen nhánh đều đặn cân đối, nét mặt hồng hào, dáng uy nghi quắc thước mà vẫn lộ rõ vẻ nhân từ, liền kính cẩn thưa:

- Bẩm Đức Ông, tôi họ Phạm, tên Ngũ Lão, quê ở làng Phù ủng, huyện Đường Hào, châu Thượng Hồng. Nhà nghèo, mẹ già yếu, ruộng đất không có, phải làm nghề đan sọt nuôi mẹ. Tôi mải nghĩ mấy câu trong binh thư không biết có quân của Đức Ông trẩy qua, làm trở ngại việc quân, xin Đức Ông xá tội cho.

Hưng Đạo Vương thấy thần sắc, khẩu khí của Phạm Ngũ Lão xứng đáng là tướng cầm quân liền sai quân nhổ ngọn giáo vẫn cắm ở đùi Phạm Ngũ Lão, sai người lấy thuốc dấu đắp vết thương rồi hỏi:

- Hẳn tráng sĩ biết quân Nguyên - Mông đã chinh phục hàng chục nước Đông, Tây, Nhà Tống cũng đã bị đẩy xuống phía Nam, đang có nguy cơ bị tiêu diệt. Chúng đã bị quân dân Đại Việt ta đánh bại trong cuộc xâm lược lần thứ nhất, nay chúng đang gấp rút chuẩn bị để xâm lược nước ta một lần nữa. Hiện nay, trai tráng cả nước đang nô nức sắm sửa vũ khí, luyện tập võ nghệ, ta cũng đã soạn cuốn Binh thư yếu lược, hẳn tráng sĩ rõ chứ?

Phạm Ngũ Lão thưa:

- Bẩm Đức Ông, kẻ thứ dân này tuy ở nơi thôn dã, xa cách thị thành, song cũng biết giặc Nguyên - Mông đã động binh, rắp tâm xâm lược nước ta nên đã cùng trai tráng trong vùng luyện tập võ nghệ, chờ thời cơ đầu quân giết giặc, đền nợ nước...

Hưng Đạo Vương hài lòng, gật đầu khen:

- Tráng sĩ có chí lớn như vậy ta rất mừng, hiện ta đang chiêu mộ quân lính, kén chọn tướng tài để cầm quân giúp nước. Ta muốn đưa ngươi về trang ấp Vạn Kiếp giúp ta huấn luyện quân sĩ, tráng sĩ có vui lòng chăng?

Phạm Ngũ Lão chưa kịp trả lời thì Đức Ông nhìn thấy trong chiếc sọt đan dở có quyển sách liền hỏi:

- Tráng sĩ đọc sách trong khi đang đan sọt hay sao, cho ta xem qua được không?

Phạm Ngũ Lão ngập ngừng thưa:

- Bẩm Đức Ông, quyển sách này tôi chỉ ghi lại đôi điều cảm nghĩ khi đọc sách của người xưa.

Nói rồi, kính cẩn dâng sách lên. Đức Ông nhìn thấy trang đầu ghi dòng chữ: "Dùng binh cốt chọn quân tinh nhuệ, không cần nhiều". Trang tiếp theo có bài thơ:

Hoành giáo giang sơn cáp kỷ thu
Tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu,
Nam nhi vi liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu

Tạm dịch:

Vung giáo non sông trải mấy thu
Ba quân tựa cọp nuốt trôi trâu
Trai chưa trả nợ công danh được
Còn thẹn khi nghe chuyện Vũ Hầu

Xem xong, Vương càng hài lòng nhắc lại:

- Tráng sĩ tỏ ra là người thao lược, ta rất quý trọng. Ta muốn đưa về trang ấp Vạn Kiếp giúp ta huấn luyện quân sĩ có vui lòng không?

Ngũ Lão thưa:

- Bẩm Đức Ông, tôi rất muốn đầu quân, nhưng vì còn vướng mẹ già, xin phép Đức Ông cho tôi về thưa đã...

Hưng Đạo Vương xúc động trước tấm lòng hiếu thảo của Ngũ Lão liền truyền lấy mấy tấm lụa và hai mươi nén bạc trao cho Ngũ Lão, nói:

- Ta tin một người mẹ đã sinh ra người con như tráng sĩ ắt vui lòng cho con đầu quân giết giặc. Ta có chút quà nhỏ gửi biếu bà mẹ, tráng sĩ sớm đến với ta.

Phạm Ngũ Lão xúc động, vái lạy Đức Ông và xin được về thưa với mẹ rồi tới quân doanh ở Vạn Kiếp trình diện.

Nửa tháng sau, khi đã trình với mẹ và điều trị lành vết thương, Phạm Ngũ Lão được mẹ và dân làng tiễn đưa lên đường đầu quân giết giặc.

Phạm Ngũ Lão đến trang ấp Vạn Kiếp ra mắt Đức Ông, được Quốc công niềm nở đón tiếp. Biết tài của Phạm Ngũ Lão, Vương giao cho cùng Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng huấn luyện quân sĩ.

Sau một thời gian luyện quân, Hưng Đạo Vương tiến cử Phạm Ngũ Lão với nhà Vua cho coi quân Cấm vệ là đội quân tin cậy, làm nhiệm vụ bảo vệ Vua và Cấm thành.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ hai và thứ ba, Phạm Ngũ Lão lập được nhiều chiến công to lớn ở Tây Kết, Vạn Kiếp, Bạch Đằng Giang và được phong đến chức Kim Nghiêu đại tướng quân.

Ông được Hưng Đạo Vương rất yêu mến, đem con gái nuôi là Anh Nguyên quận chúa gả cho.

Phạm Ngũ Lão phục vụ trải 3 đời Vua nhà Trần, được phong đến chức Điện suý thượng tướng quân.

Ngày 1 tháng 11 năm 1320 (Canh Thân) Phạm Ngũ Lão mất tại phủ đệ Vua ban ở vườn cam trong thành, thọ 66 tuổi. Vua nghỉ chầu 5 ngày, đó là ân điển đặc biệt.

Khi ông mất, dân làng Phù ủng lập đền thờ ngay trên nền nhà cũ ở phía tây làng.

Nhiều nơi trong nước lập đền thờ Phạm Ngũ Lão. (http://traihevietnam.vn/)


Bình Đức sưu tầm

---

Tài liệu:

- http://traihevietnam.vn/

- https://vi.wikipedia.org

- http://www.maxreading.com/

- http://tranbinhtrong.phuyen.edu.vn/

 

 

Posted: 23/08/2016 #views: 897
 Để lại lời bình:
Tác gỉa:
Email:
Lời bình:
 
Đăng lên
 

Lời bình:


Webmaster: copywright @ 2015 viettorg.com

38  Online:     Netherlands: 26  -  United States: 12  -  
 Vài nét vềCộng Đồng & Hộì ĐòanHướng DẫnĐiều Lệ
 Vietorg.comTrương mụcXử dụng trang mạng
 Đăng Nhập
 Đăng Xuất