11500, 46, 224
Trương Mục mới
Login
Trang nhà
 
Tin tức
 
Bài viết
 
Phim ảnh
 
Thư viện
 
Lich Trình
 
Thương mại/Dịch vụ
 
Đời sống
 
Diễn đàn
 
Kết nối
 
Liên lạc
 
Bài viết - Danh mục:  > Văn học nghệ thuật > Truyện ngắn
Đăng bài mới
Sủa bài này
Email bài này
English
 Truyện ngắnTrở lại phần chính
        Văn chương
        Thi ca
        Truyện hoang đường
        Tùy Bút/Hồi Ký
     Chuyện Lịch Sử
     Chuyện chiến tranh
     Văn học nghệ thuật
     Chuyện tiếu lâm
     Âm Nhạc

Bài mớ nhất:
1 - CON RẠCH NHỎ QUÊ MÌNH
2 - ĐÁI ĐƯỜNG….
3 - BÀI CA VỌNG CỔ
4 - MÙA XUÂN THẦN THOẠI
5 - QUỚI NHÂN
6 - ĐIỀU ƯỚC ĐẦU NĂM
7 - NGƯỜI ĐÓNG HỤI CHẾT KHẢ KÍNH
8 - NGƯỜI BÁN SÁCH TRÊN BÃI BIỂN NHA-TRANG
9 - CHÀNG LÙN NỂ VỢ
10 - CHIẾC VÒNG CẨM THẠCH
11 - CÒN GÌ NỮA ĐÂU
12 - Chuyện Con Xí Muội
13 - TỞN TỚI GIÀ
14 - BỘ TAM SÊN
15 - Con Lu nhà tôi (Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích)
16 - NGƯỜI VIỆT GỐC MỸ
17 - Những vết thương không bao giờ thành sẹo
18 - Di Chúc Tuyệt Mệnh (Advance Directives)
19 - NGƯỜI MẸ KHÔNG QUEN BIẾT.
20 - CHỊ DẬU NĂM 2017
21 - Tình cũ duyên mới
22 - CHUYỆN CỔ TÍCH TRÊN ĐỈNH MỒ CÔI
23 - Con người có số _ Đoàn Dự.
24 - Bông Mồng Gà
25 - Tản mạn về Ghen

Xếp Theo Loại:
Truyện ngắn(88)


Xếp theo thời gian:
09/2018 (1)
03/2018 (2)
02/2018 (2)
01/2018 (1)
2017 (21)
2016 (61)
 
Mùa Xuân Ly Loạn

Mùa Xuân Ly Loạn

 

Image result for tet mau than

Vừa gặp người bạn cũ là Giới ở Việtnam qua thăm, bạn tôi là Lập Hoa rù bạn bè lại chơi nói chuyện và kỷ niệm về Huế Mậu Thân sống dậy trong tôi.

Năm 1968 khi Ba tôi vừa từ Hoa Kỳ trở về Việtnam sau những tháng ngày dài tu nghiệp, nhà tôi đoàn tụ sum họp vào dịp Tết. Anh trai đầu của tôi vừa có con đầu lòng nên cũng đem về trình diện. Bé Minh Ngọc vừa được 3 tháng rất xinh xắn dễ thương mà anh tôi cho là giống cô Thành cũng đựơc theo mẹ cha về thăm quê nội.  Cả nhà thức khuya hồi hôm nói chuyện, nên dậy trể. Tuy nhiên Mạ tôi dậy sớm đi tiểu, và khi ngó ra ngoài giếng nước thấy có người lạ múc nước Mạ tôi yên lặng thức Ba tôi dậy. Bà nói rất nhỏ trong cuốn họng :

_ Mình ơi, dậy đi, có người chi lạ lắm đang múc nước ở giếng nhà mình.

Tôi nghe rứa nên tò mò không ngủ nữa, rón rén rình xem thử ai mà lạ rứa.

Người ni lạ quá, cả đời mình chưa hề thấy họ. Họ cũng tầm vóc như mình, nhưng giọng nói của họ nghe lạ lắm, mình không nghe được họ đang nói gì. Cách ăn mặc của họ cũng lạ nữa. Mạ tôi thức cả nhà dậy trong dấu hiệu đừng có làm ồn, nên mọi ngườì thức dậy mà không có một tiếng ồn.

Mạ tôi đóng các cửa sổ không cho ánh sáng lọt vào, thì trong nhà mình nhìn ra dễ hơn và họ không thể thấy được nhà mình nhiều hay ít người. Mình nghe tiếng đào đất bên bụi hàng rào nhà mình. Cả nhà đang lúm xúm bên mấy cái khe cửa sổ quan sát. Có người vào lại trong giếng. Mạ tôi người đàn bà can đảm, suốt đời lo cho chồng con, nói với Ba tôi để ra gặp họ và hỏi cho biết họ là ai.

  • Chào Mẹ, chúng con từ ngoài phương xa vào, không biết đường, xin mẹ cho miếng nước. Mẹ đào hầm tránh bom đạn Mỹ Ngụy nhé.

Mẹ tôi đi vào, chân tay run lẩy bẩy. Bà nói rất nhỏ:

  • Việt Cọng vào tới đây rồi, tính răng đây. Họ noái giọng Nghệ An, Đồng Hới.

Mạ tôi đã có ít nhiều kinh nghiệm với Việtcọng, tuổi niên thiếu nghe bà Ngoại tôi kể lại nên bà sợ lắm.

Mạ tôi ra dấu cho chúng tôi đi nấu cơm. Ba và anh tôi đang cố tìm làn sóng điện của đài Phát Thanh Huế nhưng không được.   Cuối cùng thì nghe lén đựơc đài BBC.

Chúng tôi nhìn qua nhà cô Phán, thấy họ cũng có bên đó nữa. Ăn sáng xong, chúng tôi nghe có tiếng máy bay trực thăng và có tiếng súng bắn, không phải của họ mà ở xa hơn. Không khí chiến tranh bao trùm khu vực Eo Bầu Thượng Thành nơi tôi đang ở. Nhìn ra nhà ông Chắc thường tưng bừng rộn rịp thợ thầy, cũng thấy vắng hoe như chùa Bà Đanh. Nhà ông Đại Úy bên cạnh cũng im lìm, lặng lẽ. Vài ngày sau, một buổi chiều, nhà Mợ Cưủ tản cư đến nhà tôi. Thằng con nuôi của mợ đang bị thương trên cánh tay.  Đây là một thằng bé khoẳng 4 hay 5 tuổi.  Mợ Cửu cho biết vùng mợ đang bị đạn dữ lắm.  Nhà Mợ chỉ cách nhà tôi có 5 căn mà thôi.

  • Mình hè, chắc phải đi trốn bom đạn.  Ba tôi nói.

  • Đi mô chừ. Nhà mình đông người. Ai chứa cho. Thằng C. trong quân đội. Nhà mợ Cửu vừa mới  tản cư tới, không lẽ mình lại bỏ đi, coai răng được ( xem sao đưọc). Thôi thì huy động lực lượng ra đào hầm đi, cho chắc chuyện. Mạ tôi trả lời.

Nhà tôi đông anh chị em. Chỉ có anh đầu là con trai, còn một dọc 5 đưá con gái đang tuổi cập kê, đứa mô cũng là con gái 17 bẻ gãy sừng trâu hết, rồi một dọc mấy thằng em trai tuổi quá nhỏ để mà đi lính. Mạ tôi thường mừng cho như là tạo hóa an bài sự bình an của gia đình mình.

Thế là chẳng ngại, tụi tui bắt tay vào việc liền lập tức. 19 người gồm hai gia đình. Phải đào cái hầm cho lớn, chứa đựơc 19 người. Qua ngày thứ hai rồi thứ ba, cái hầm cũng lớn lần.  Mổi lần nghe tiếng máy bay gần đến, chúng tôi chạy ra hầm núp trốn. Có nhiều khi phải núp cả hơn tiếng đồng hồ mà chưa ra đựơc lại còn mắc tè thiệt là phiền. Ngày thừ tư hay thứ năm gì đó thì thêm một gia đình nữa từ trên Thượng Thành xin vào nhà tôi tỵ nạn. Lần này tổng cộng là 24 người. Họ xin vào vì nhà tôi có tấm bê tông rất kiên cố, có thể tránh đạn. Khi nằm trong hầm, tâm trí nghĩ bâng quơ. Nếu mình chết vì bom đạn thì “người ấy” sẽ như thế nào. Người ấy là người bạn Mạ giới thiệu, người ấy là người bạn của chị, người ấy là người bạn của mình. Tùm lum không biết người ấy là ai nữa. Và trong trí lại nghĩ : “ Nhưng không chết người trai khói lửa mà chết người gái nhỏ hậu phương tuổi xuân thì.”

Một buổi sáng, Mạ tôi cho biết gạo hết rồi, nếu cầm cự được giỏi lắm là hai bữa nữa thôi. Trứng gà trong chuồng đã ăn hết và đã làm thịt hai con gà, còn lại năm con trong chuồng. Nếu mình ở lại thì chắc chết đoái hết.  Vả lại vết thương cuả thằng con nuôi của Mợ Cưủ cũng đã lành chút ít rồi.  Cả xóm đã di tãn mô rồi, chỉ còn lại nhà tôi, chưa di tản.  Tôi có mấy cái bao nhỏ đựng đồ cưú thương khi là đoàn viên trong đoàn cưú thương Phật Gíao, tôi dùng đựng gạo trong nhà và phát cho mỗi người 2 lon gạo mang theo mình. Mền chiếu cũng đã xếp sẵn sàng trên 2 đôi quan gánh. Mọi người ăn trong vội vã cơm với nước mắm, vì chẳng còn đồ ăn, mà sao ngon quá. Thèm thêm một muỗng cơm nữa cũng không có ăn. Vừa dọn dẹp xong thì cây dừa nhà tôi bị đạn bắn nát, không còn một tàu lá.  Lần này thì phải di tản thôi, không thể chần chờ, chiếc trực thăng quần tới, quần lui nhiều lần trên đọt cây dừa.

Lằn đạn vừa dứt, chúng tôi ra đi.

  • Đi mô đó, đứng lại, bắn nè.

Chị Viên lấn ra trước:

  • Đây có người bị thương, xin cho tải thương.

Thằng học trò của chị còn chút tình người, khoảng 15 tuổi, nói rất nhỏ với chị :

  • Đi mau lên.

Hắn đưa cây súng nhắm vào đoàn người, thình lình quay mặt đi nơi khác như không thấy.

Cả đoàn người tiến lên. Anh tôi giả dạng đàn bà ôm con, đầu đội nón lá, mang áo mưa. Bà vợ người Nam nghe tiếng Huế chưa quen đang run cầm cập bước theo. Rồi mấy cậu em nhỏ đang lần luợt bước lên. Trên thân mỗi người có 2 lon gạo mang theo. Chúng tôi mừng hú vía vì lọt qua được một trạm canh gác và 24 người đi trong im lặng. Mấy chị tôi trên vai đang gồng gánh chiếu mền.

Vừa tới cửa Đông Ba, trong thành nội thì cảnh tượng khác hẳn. Bên kia đường Mai Thúc Loan, đường nhựa còn sạch sẽ, không bị ướt sình, đầy bùn như bên ni đường. A thì ra vì bom đạn đã phá hủy đường mà vì không kinh nghiệm mình không biết. Thấy cửa Đông Ba, chúng tôi thẳng tiến không suy nghĩ, đi ra cửa thành, hướng về nhà bác tôi ở Đò Cồn. Qua khỏi cửa thành, đường cũng dơ và đầy bùn tuy ít hơn, còn đoạn đường trong nhà tôi như sau một cơn lụt, cây cối gãy đổ tơi bời, bùn đất tùm lum. Tới nhà bác tôi khoảng hai, ba giờ chiều chi đó, vì mình không có đồng hồ nên không biết.

Ngang qua phủ ông Án, thấy người ta đông lắm. Gần đó ở ngoài phủ cũng đông người. Mình không hiểu lý do. Một hồi loa phóng thanh vang lên:

  • Ai là cựu công chức, công an, cảnh sát, quân nhân, sinh viên, học sinh, từ 18 tuổi trở lên, hãy ra trình diện cách mạng, chính phủ sẽ khoan hồng.

Tiếng loa cứ lập đi, lập lại, nghe hồi hộp lắm. Ba tôi và anh tôi đang ở trong diện đang bị kêu trên loa phóng thanh đó. Bác tôi nói với ba tôi :

  • Chú với thằng C. ăn uống chi chưa? Ăn đi rồi ra trình diện, chính phủ họ nói khoan hồng cho mà.

Mạ tôi nghe rứa bà trả lời.

  • Xin anh chị cho nghỉ đêm ni tại đây, mơi (mai) ra trình diện cũng được, chứ mới tản cư ra đây, các cháu đang còn nhỏ.

  • Thím noái rứa cũng được, bác tôi trả lời .

Tại nhà bác tôi, chẳng thấy không khí chiến tranh chi hết. Bác gái thì đang xòe mấy con bài trên tay, chẳng biết tứ sắc hay bài chi. Tôi không biết đánh nên thấy để mà thấy thôi, chẳng hiểu gì, thấy bài có nhiều màu lắm.

Mạ tôi dặn chị tôi nấu cơm cho cả nhà ăn, mạ và chị Viên đi có việc.  Tâm tư mình cũng đang hoang mang, không lẽ đây là hậu cứ của Việtcọng. Chúng tôi dọn ăn trên một chiếc chiếu trải sau bếp nhà bác.  Mình ăn uống xong rồi mà mấy tay đánh Tứ Sắc vẩn còn xoay ván cờ chưa mãn. Tối đó không có điện nên chúng tôi đi ngủ sớm, trên sàn nhà.  Vả lại mình cũng không muốn làm phiền bác, nên đi ngủ là tốt nhất.

Nửa đêm thức dậy, mình nghe tiếng đào đất. Nghe rõ lắm. Đúng là tiếng đào đất. Giờ ni ai còn thức mà đào ri hè.  Càng về khuya, tiếng đào càng nghe rõ hơn nữa.  Đến 4 giờ sáng, mạ tôi thức chúng tôi dậy và đi ra khỏi nhà bác tôi. Tất cả mọi người đang ngủ say, chẳng ai nghe tiếng bước chân âm thầm của chúng tôi.  Sau khi ra khỏi nhà bác, vì đang còn trong khu vực dân cư, chó sủa nên chúng tôi sợ lắm.  Vừa đi vừa niệm Phật Quan Âm, và bước thật nhẹ. Thỉnh thoảng có tiếng vọng ra “Ai đó” rồi im, cũng nhờ vì trời đang mưa lâm thâm, lạnh lắm. Khi đi đến khu vực dân cư ở Đò Cồn, nhà cửa thưa thớt hơn, thỉnh thoảng một vài con chó sủa những âm thanh nghe cũng uể oải. Hai chị tôi cũng được phân công gánh chiếu mền theo, tôi được phân công nắm lấy tay cậu em út cho khỏi lạc. Mọi người, một phen nữa mang trên mình hai lon gạo. Căng thẳng trong đầu quá sức, tôi đi không nỏi, chân không nhúc nhích được.  Cậu Út lúc đó 5 tuổi, biết chị đi không nổi đã mang gạo của tôi trên vai cậu cho chị được nhẹ mà bước. Cậu đã kéo tôi trong im lặng đẩy chị từng bước một qua khỏi nơi có Việt cộng canh chừng. Mạ và chị Viên đã hướng dẫn tụi tui đi và giờ đã qua khỏi Ô Hồ, và đang đi sâu trong ruộng lúa. Mình thở dài nhẹ nhỏm .Luá cao che phủ ngang đầu, đi rất an toàn không cònsợ ai biết nữa, không còn sợ chó sủa nữa, hoàn toàn chúng tôi đã đi vào ruộng. Chúng tôi đã đi khỏi Bãi Dâu. Vẫn còn nhiều ruộng. Và đi, và đi. Và chừ , chúng tôi đang tiến tới một vùng đất trọc, chẳng có ruộng, cũng chẳng có nhà. Đến khoảng đất trống này lại rất sợ, vì quá trống vắng, rất dễ bị lộ đoàn người của chúng tôi. Vừa đi trời cũng vừa lờ mờ sang, tuy vẫn đang còn trong nhá nhem của mưa phùn và gió lạnh.

Mạ và chị dẫn chúng tôi đến một bến đò. Chiếc đò ngang vừa cập bến, sau khi soát giấy và biết là anh tôi Y Sĩ Quân Y họ cho anh tôi lên. Chiếc đò quá nhỏ so với số người trên bến. Ông chủ đò không cho lên sợ chìm đò. Tôi đưa cậu em Út lên ngồi vào lòng đò với Ba Mạ và anh tôi. Ông lái đò nói chỉ chở được một số người thôi, còn một số phải ở chuyến sau. Khi đó tôi cũng không còn bình tĩnh để biết có ai trên đò, có ai không. Tôi la lớn :

  • Hãy cầm vào thuyền mà bơi.

Các người con gái tôi không nhớ rõ ai, ít nhất cũng hai, ba, người con gái nữa, cùng với tôi, không biết bơi, cùng nắm vào mạn đò, tống chân trong nước, trong aó quần ướt sũng, để bơi qua sông, qua dòng sông định mệnh để vào bờ Mang Cá. Mạ và chị, hai người đàn bà can đảm hồi chiều qua đã đi tìm con đường này theo hướng bay của trực thăng và dẫn dắt gia đình đến chốn bình an.

Khi mình vào đây, một cảnh tượng đau lòng. Người ta ngồi đánh bạc quá sá, người ta ăn chơi ngày Tết, chẳng biết là Việtcọng đang ở kề bên nách. Họ chẳng biết trong gang tay của họ đang có chiến tranh. Họ chẳng biết là Eo Bầu Thượng Thành đang bị đạn ngập trời, hay họ có biết mà cũng giả lơ như không biết.

Lúc đầu gia đình tôi định tá túc ở nhà Ông Bà Đốc Thước, nhưng đến nơi, ba tôi có một người bà con là chị Bếp Liễn, nên gia đình vào tá túc nhà anh chị. Khi có tin có tàu xà lan đổ bộ chở người vào Đà Nẵng gia đình anh tôi và hai chị gỉa từ để vào lại Saìgòn, đem theo cậu em trai lớn. Anh chị Bếp Liễn rất tốt, cho chúng tôi ở nhờ cả hơn tháng trời. Mẹ tôi có ông bà sui gia hụt là ông bà đốc Thước cũng rất tốt, ngày ngày đem gạo qua tiếp tế cho gia đình tôi. Chị V. ở lại với bầy em nhỏ và ba mạ tôi. Tục ngữ mình nói :

“ Nước loạn mới biết tôi trung,

   Gia bần mới biết con hiếu”.

Chị V. tôi trong mọi hoàn cảnh, đã lo lắng cho mấy em và ba mạ tôi rất nhiều, đúng là một chị cả thương em.

Khi có tin Nội Thành được giải phóng, chúng tôi mừng quá trở vế thăm.

“Cờ bay tưng bừng trên thành phố thân yêu vừa chiếm lại hôm qua bằng máu”.

Nhìn ngọn cờ vàng bay trên đỉnh kỳ đài Ngọ Môn, tôi khóc quá chừng.  Tôi không ngờ chiến tranh đã tàn phá cố đô Huế thân yêu hầu như 100%.

Tôi đã đi về nhà, tôi đi với ai tôi không nhớ nữa. Chỉ nhớ là khi đi qua đường Ngã Giữa thì thấy vàng bạc rơi rớt trên sàn nhà sau mấy lớp cửa sắt.

Trên đỉnh cửa Đông Ba, một người lính Việt cọng chết nhào xuống, chân đang còn xích vào với khẩu đại bác. Vài cái xác chết trên đường đã phình lên, to hơn cả cái bàn. Mèo chó chết cũng phình trương lên rất lớn. Mùi hôi kinh tởm bốc xông cả vùng Nội Thành. Hố bom thật sâu và rộng đã choán hết một phần con đường Nhà Thương Nhỏ. Tôi đi trong kinh hoàn. Vũ trụ như sập tan trong mắt tôi. Còn gì là cuộc đời. Sống để làm gì với những vết thương hằn xé như thế này. Tuổi trẻ mới lớn nhiều ước vọng còn gì nữa đâu. Đầu óc đang chứa quá nhiều đau khổ, đang lo sợ, tâm cang đang quằn quại thì một bàn tay đặt trên vai tôi. Tôi hét lên thật lớn trong đau khổ thấy cảnh tương tàn, không biết là người hay ma đang bóp cổ mình đây. Tôi hét lên cũng vì sợ.  Hét lên cũng v iđời dã man. Tôi nghe một tiếng nói bên tai:

  • Moa (moi) vo coi nhà Hiệp Thành có bị chi không vì thấy ở vùng ni bị dữ quá.

  • Bị chứ làm răng mà khoải được.

Công đi yên lặng bên tôi, chắc cũng chẳng biết an ủi bạn như thế nào trong hoàn cảnh này, chi bằng yên lặng là hơn.  Công là người bạn thân cuả tôi từ nhỏ, chúng tôi cùng đi Hướng Đạo và cùng có ý hướng giúp đời nên tư tưởng có nhiều điểm tương đồng.

  • Công biết không, moa đi một mình sợ quá, qua mấy cái xác chết tê, sợ muốn chết, may có Công, có bạn cũng đở. Nì mà răng Công lại đi vô đây?

Tôi hỏi bạn lạt nhách. Công đã nói là vô coi nhà tôi từ đầu rồi mà. Đi một khoảng khá xa, vì đường đi có nhiều chướng ngại, như là bùn đất dính đầy trên đôi guốc khó lòng mà nhấc lên, cây cối gãy đổ giữa đường, hầm mìn chắn hết lối đi, thành ra nhọc nhằn lắm mới tới đựơc nhà. “Thục đạo nan” chắc cũng như vậy mà thôi.

Đến nơi, ba mạ tôi đã đến trước. Tôi thấy Mạ tôi đã khóc. Căn nhà thân yêu của ba mạ tôi đã sập hoàn toàn phần trên.  Chổ chúng tôi làm hầm nổi ba mạ tôi xây thêm về sau, vẫn còn nhưng rất nhiều vết đạn, mùi hôi của xác chết làm tôi quá nhức đầu.

  • Chừ mình tính răng Mạ hè.

  • Thôi con đi về đi, Mạ với Ba về sau.  Để coai thử ra răng đã.  Chắc mình chưa dọn về được mô.

Tôi xây xẩm mặt mày vì mùi hôi của xác chết bị sình thúi, nên chào ba mạ tôi rồi đi.

Đến nhà Công, tôi chào hai bác và bác gái bảo tôi đi ăn. Người tôi lấm đầy đất bùn. Nhà Công cũng đông người tỵ nạn như nhà tôi trước khi chạy giặc. Ông là Đại Tá quân đội và quá tốt. Lòng tốt này tôi khắc khỏai ghi tạc hoài mà trong bài thơ “Bát cơm Mậu Thân” cũng để ghi lại một ơn nghiã không quên của đời mình.

Vài ba ngày sau, ba mạ tôi hồi cư trở về để dọn dẹp nhà. Năm con gà nằm chết trong chuồng.  Con mèo cùng tuổi với tôi cũng đi đâu mất tích. Phải dọn dẹp mấy tháng trời đống gạch vụn lớn với hai bàn tay trần như không bao giờ xong. Về sau ba tôi nhờ một người cháu rễ là Đại Tá Thiện dùng xe cần trục lớn, dọn đi đống gạch sập của căn nhà. Đêm đêm, cứ đến nửa khuya, khi đang ngồi học dưới ánh đèn dầu leo lét, tôi lại nghe tiếng rên hừ, hừ…Tôi sợ qúa và tắt đèn đi ngủ. Tôi không biết tiếng rên đó là tiếng của người sống hay người chết nữa. Tiếng rên đó tôi nghe hoài, luôn cả tháng trời chưa dứ,t và phải nửa đêm mới nghe khi đêm về khuya thanh vắng.

Cầu Trường Tiền trong dịp giặc đã gảy một nhịp. Trường Đại Học Y khoa Huế đã dọn tạm vào Saìgòn, và tôi cũng không gặp Công nữa. Về sau, khi đi học qua cầu tôi gặp bạn về thăm Huế, và chẵng bao lâu có vợ người Sàigòn. Đó là lần cuối tôi gặp ân nhân của tôi.

Đò Cồn, Bãi Dâu, những tiếng đào đất mà ban đêm khi di tản đến nhà bác, tôi đã nghe phải chăng đó là tiếng đào cuả những ngôi mồ tập thể, của những chiếc khăn tang của Huế về sau. Mạ và chị đã sáng suốt không để cho Ba và anh tôi ra trình diện. Anh chị Bếp Liễn, một đời ân nghĩa, tôi đã không gặp được trong dịp về thăm Việtnam lần trước. Ông bà Đốc Thước, một đời ân nghĩa cũng không gặp lại được thì đã qui tiên.

Ôi một thành phố, nhà không vườn trống, một định mệnh, một cây cầu gẫy, một chiến tranh tương tàn, tất cả để làm gì. Tại sao không mang hạnh phúc cho người mà chuốc lấy thương đau.  Không có công tạo dựng xin đừng gây tương tàn.

Đã mấy chục năm qua. Người còn, kẻ mất, một xót xa đau đớn, như đã quên lãng trong tôi bổng hiện về. Và tôi chỉ có thể nói với mình là chiến tranh tàn ác, tại sao có người thích chiến tranh và ủng hộ người nuôi dưỡng chiến tranh, trong khi mình không tạo dựng được hạnh phúc cho người. Hãy ban phát tình thương với người như thương chính mình vậy, và mong mọi người có mùa xuân an bình chứ không phải mùa xuân ly loạn như Mậu Thân.

Phan thị Hiệp Thành.

Tháng Ba Muà Xuân 2005 Ất Dậu

Posted: 03/03/2016 #views: 2638
 Để lại lời bình:
Tác gỉa:
Email:
Lời bình:
 
Đăng lên
 

Lời bình:


Webmaster: copywright @ 2015 viettorg.com

39  Online:     Netherlands: 21  -  United States: 18  -  
 Vài nét vềCộng Đồng & Hộì ĐòanHướng DẫnĐiều Lệ
 Vietorg.comTrương mụcXử dụng trang mạng
 Đăng Nhập
 Đăng Xuất